Lăng Ông Bà Chiểu gần 200 tuổi – Biểu tượng Sài Gòn một thuở

0
Lăng Ông Bà Chiểu biểu tượng một thời của Sài Gòn - Gia Định
Lăng Ông Bà Chiểu biểu tượng một thời của Sài Gòn - Gia Định

Vì khu lăng mộ tọa lạc ở khu vực Bà Chiểu, cạnh chợ Bà Chiểu nên dân gian gọi là lăng Ông – Bà Chiểu. Tên gọi đúng của khu lăng mộ này là Thượng Công miếu – là ba chữ Hán khắc trên cổng tam quan.

Trước năm 1975, hình ảnh cổng tam quan lăng Ông in trên các tấm thiệp bưu chính (card postale) được coi như biểu tượng của vùng Sài Gòn – Gia Định xưa.

Khu lăng mộ rộng 18.500 m2 nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng trên một gò đất cao sát bên chợ Bà Chiểu ở quận Bình Thạnh.

Khuôn viên Lăng Ông Bà Chiểu - Ảnh: Thomas W.Johnson
Khuôn viên Lăng Ông Bà Chiểu – Ảnh: Thomas W.Johnson

Toàn thể khu mộ đều được xây bằng hợp chất ô dước. Đặc biệt phù điêu ở 2 bức bình phong (tiền và hậu) chạm khắc những hình ảnh rất giản lược nhưng lại thật thú vị.

Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Bia bằng đá xanh đen (không thấy có loại đá này ở trong vùng) khắc chữ Hán, nội dung bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân. Phần cuối bia có nhắc đến phu nhân Đỗ Thị Phận và Phan công Lương Khê (Phan Thanh Giản) cũng được thờ trong miếu.

Lăng Ông là khu đền và ngôi mộ đôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt – Tổng trấn Gia Định xưa và vợ là bà Đỗ Thị Phận.

Lăng mộ của ông bà Tổng trấn Gia Định xưa - Ảnh: Thomas W.Johnson
Lăng mộ của ông bà Tổng trấn Gia Định xưa – Ảnh: Thomas W.Johnson

Ngoài lăng mộ của ông bà còn có 2 ngôi mộ của hai cô hầu nằm bên ngoài khuôn viên lăng. Một mộ ở đường Trịnh Hài Đức, mộ kia ở đường Đinh Tiên Hoàng (trong khuôn viên Trường Cán bộ TP.HCM).

Ngày 6/12/1989, toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.

Tên Bà Chiểu ra đời thế nào?

Khu vực chợ Bà Chiểu hiện nay ngày xưa là một cái ao tự nhiên trong một vùng đất cao, um tùm cây cao bóng cả. Dân cư bấy giờ còn thưa thớt. Họ tin nơi này rất linh thiêng nên đã dựng lên một cái miếu thờ Bà (theo tín ngưỡng dân gian) bên cạnh ao nước. Vì vậy từ “chiểu” không phải là tên bà nào cả, mà nghĩa chữ Hán là “cái ao” nên dân gian gọi nơi này là Bà Chiểu.

Theo nhà văn – nhà nghiên cứu Sơn Nam, Bà Chiểu nghĩa là “Nữ thần thờ nơi ao nước”. Bà Chiểu trở thành tên vùng đất, giống như địa danh Linh Chiểu ở Thủ Đức vậy. Lại càng không phải “bà Chiểu” là một trong năm bà vợ của ông Lãnh binh Thăng, mỗi người cai quản một ngôi chợ gồm: bà Chiểu, bà Hạt, bà Điểm, bà Quẹo và bà Hom như một bài viết đăng trên một trang báo mạng gần đây.

Vị trí Lăng Ông Bà Chiểu vào thế kỷ thứ 19
Vị trí Lăng Ông Bà Chiểu vào thế kỷ thứ 19

Cũng theo nhà văn – nhà nghiên cứu Sơn Nam thì địa danh Bà Chiểu mới có từ thời Tự Đức. Còn chợ Bà Chiểu mãi đến năm 1942 mới chính thức được xây dựng. Năm 1987, chợ Bà Chiểu được trùng tu, nâng cấp với gần 800 gian hàng, nổi tiếng là chợ bán lẻ trong khu vực với hơn 40 ngành hàng.

Khu vực Bà Chiểu không có tên trên bản đồ hành chính nhưng từ lâu đời đã nằm trong tâm thức bà con cư dân ở đây.

Vùng Bà Chiểu được mặc định khoanh vùng từ đầu đường Nơ Trang Long chạy tới ngã năm Bình Hòa, xuống đường Chu Văn An, qua đường Đinh Bộ Lĩnh tới Điện Biên Phủ, chạy tới cầu Điện Biên Phủ quẹo bờ kè đường Trường Sa, bọc qua khu Miếu Nổi tới cầu Hoàng Hoa Thám, rồi qua đường Vạn Kiếp trở về tới BV Nhân dân Gia Định đầu đường Nơ Trang Long…

Comment của bạn

avatar
  Theo dõi chủ đề  
Thông báo